Saturday, September 11, 2010

Paris (18 photos), by Ha Nguyen


I'd like to share my Snapfish photos with you. Once you have checked out my photos you can order prints and upload your own photos to share.
Click here to view photos

Thursday, January 28, 2010

MÙA XUÂN TRONG CỬA PHẬT Hoàng Hương Thủy

Tháng 7 ngày 26 năm 2017
Chị đi rất mau.
Tôi rất đau, rất buồn và đã khóc.
Khóc vơi, tôi nhủ lòng sẽ vui
Vì CHỊ về với MẠ
CHỊ đi về CỰC LẠC nơi CHỊ vẫn nguyện mong khi từ giã hồng trần.
Cứ vậy mà đi hí chị Thuỷ
Cứ theo hào quang của Đạo Sư Tiếp Dẫn
Chị sẽ được ngồi dưới chân Đức A Di Đà. Bên kia bờ Bỉ Ngạn.

LOLO




Khi mùa Giáng Sinh và Tết Dương lịch đến là mùa đông lạnh giá cũng đang về mang theo tuyết trắng phủ ngập đường sá, dày nặng trên mái nhà, che lấp xe cộ ven đường… Đó là mùa lạnh miền Đông nước Mỹ. Còn ở miền Tây, xứ Cali nắng ấm cũng bắt đầu có những cơn mưa tưới tẩm ruộng vườn đồi núi. Những con sông khô cạn qua mấy năm liền hạn hán cũng bắt đầu có nước tràn về, đầy sông, chảy lao xao róc rách len qua các lùm cây, bụi cỏ làm tươi mát không gian. Mùa đông ở đây tuy không rét buốt băng giá nhưng cái lạnh sau cơn mưa cũng có khi xuống đến 40 độ F. Cái lạnh khô ấy cũng làm tê tái những người già và em bé. Bệnh cảm cúm cũng theo đó đến viếng thăm nhiều người …
Mùa đông đến cũng có nghĩa là mùa đông đang đi, đang trôi theo dòng thời gian với bốn mùa Xuân ,Hạ, Thu, Đông… rồi lai Xuân. Con người cũng bận rộn theo tháng năm, tất bật làm ăn sinh sống suốt bốn mùa nên nhiều khi quên đi tiếng đập của thời gian. Mỗi ngày như mọi ngày nên quá quen với sự đổi thay của nước chảy mây trôi ngày qua tháng lại để miệt mài với công việc của đời thường. Cứ thế cho đến khi ngừng, nghỉ, chợt ngẩng mặt nhìn trời thì chao ôi, cỏ cây hoa lá đang hồi sinh dưới nắng ấm của mùa Xuân mới đang về.
Chồi non, cây xanh, cỏ mượt, hoa tươi thắm đang hé nụ tươi cười trong cái se lạnh còn sót lại của mùa đông qua. Phải chăng mùa Xuân lại đang về ...
“Ô hay Xuân đến bao giờ nhỉ?
Nghe tiếng hoa khai bỗng giật mình.
Sáng nay thức dậy choàng thêm áo,
Vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh!”
Đó là lời của nhà thơ – là thi sĩ Huyền Không - là hòa thượng Mãn Giác.
Khi mà thời gian tuông chảy đêm ngày không ngừng nghỉ và sự đời cũng chảy tuông như thế thì có gì mà không mới mẻ trong từng khoảnh khắc?
Nói đến mùa Xuân là nói đến sự tươi đẹp an lành. Thế nhân thường mượn mùa Xuân để nói đến cuộc sống tươi vui đầy sức sống vươn lên, nên tuổi trẻ được gọi là tuổi thanh xuân, tuổi đầy sức sống.
Và muốn được sống tươi vui như mùa xuân thì cần phải có Tâm Mùa Xuân, tức là lúc nào lòng cũng mới mẻ, tươi vui, không cũ kỹ, khô cằn như mùa thu lá rụng, mùa đông lạnh giá. Có lẽ nhà thơ muốn nói với chúng ta như thế.
Sư Tổ Trúc Lâm cũng có bài kệ về mùa Xuân mới:
“Thủy khởi khải song phi
Bất tri Xuân dĩ qui
Nhất song bạch hồ điệp
Phách phách sấn hoa phi”
Bản dịch:
Ngủ dậy mở cửa sổ
Ngờ đâu Xuân đã về
Một đôi bươm bướm trắng
Nhịp cánh nhắm hoa bay.
“Ngủ dậy”, phải chăng Tổ Sư muốn nhắn nhủ với chúng ta là chúng ta đã tỉnh giấc mê muôn thưở? để mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi mà không vướng mắc, để chỉ thấy chân tâm hiện tiền … sáng ngời, còn tìm đâu xa, mở cửa sổ liền thấy bướm trắng nhẹ nhàng bay đến bên cành hoa.
Xuân đến làm đổi mới không gian, con người và cuộc đời. Xuân đến cho ta niềm tin yêu mới, rọi xuống hồn ta những tia hy vọng. Ta cứ việc ươm niềm tin yêu hy vọng ấy vào những ngày đầu xuân thì ta sẽ buông bỏ được mọi ưu tư phiền muộn của cuộc sống, quên đi những vất vả khó khăn của đời thường, để trọn vẹn sống với những ngãy Xuân, ngày Tết. Lúc đó chắc chắn ta sẽ thấy được “Vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh” như hòa thượng Mãn Giác đã thấy. Vậy ta hãy cứ vui xuân, hưởng xuân và hãy cứ khoác lên mình chiếc áo nhuộm màu vũ trụ mới toanh.
Ngày xưa, rất xưa, cách đây đến 10 thế kỷ, thiền sư Mãn Giác thế kỷ thứ 11 đời Lý cũng đã từng làm thơ ca tụng mùa xuân mới, cho dù Xuân đến, Xuân đi, Xuân tàn, nhưng qua thơ, Ngài đã để cho mùa Xuân khi tái sinh, bởi vì hoa lá, cây cành tưởng tàn úa khi đông qua, lại bắt đầu cho ta những chồi non, những nụ hoa tươi thắm.
Hãy lắng nghe tiếng thơ của Thiền Sư:
“Xuân khứ, bách hoa lạc
Xuân đáo, bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.”
Bản dịch của Ngô Tất Tố:
“Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.”
Thiền Sư Mãn Giác bắt đầu bài thơ bằng từ “rụng” và kết thúc bài thơ bằng từ “nở”.
Xét nội dung tuần hoàn, vốn không đầu không cuối thì rụng rồi nở hay nở rồi rụng thì cũng giống nhau thôi, nhưng hiệu ứng cảm xúc thì có khác. Phải chăng Thiền Sư muốn tạo cho nhân sinh một niềm tin – rụng rồi sẽ nở:
“Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai.”
Nhưng nếu nói ngược lại thì nó sẽ như là một lời cảnh cáo: nở ra rồi thì cũng rụng thôi!
Luân hồi là giáo lý nền tảng của Phật Pháp, cũng như Nhân và Quả. Việc sống chết như hai mặt của một tờ giấy, có sinh thì có hóa, có hóa tất có sinh.
Người đắc đạo bình thản nhìn cõi tịch diệt như cõi trở về. Thơ của vị cao tăng viết khi có bệnh mà mở đầu đã nêu luật luân hồi hẳn là để đạt an nhiên cho tâm trí, thanh thản chấp nhận qui luật sinh hóa. Còn hay mất thì cũng là hư ảo. Lòng người sẽ lặng và trong như mong muốn của bao bậc tu hành.
Toàn bài thơ là cả một khối giáo lý liền mạch về cõi vô thường - trong đời không có cái gì tồn tại mãi. Xuân đến xuân đi, hoa rụng hoa nở. Việc đời đổi thay, trẻ qua già tới.
“Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai”
(Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa nở)
Các lập luận trong bốn câu thơ đầu là cùng chiều.
Nhưng hai câu kết thì lại khẳng định: Mùa Xuân là vĩnh viễn, cái đẹp là vĩnh hằng – như là mâu thuẫn với thuyết không có gì là vĩnh cửu ở trên. Hay đó là phút đốn ngộ của vị thiền sư thoạt tìm ra chân lý? Thuyết vô thường của nhà Phật đã trở thành chân lý để giải thích mọi biến thiên.
Nếu hai câu đầu nêu thuyết luân hồi như một chính đề thì hai câu ba bốn lại như một phản đề. Chính đề từ giáo lý, phản đề là hiện tượng trong đời sinh động và cụ thể.
“Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai”
(Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi)
Việc đời vô thủy vô chung, đuổi nhau ngay trước mắt mình, không thể không thấy. Còn sự già nua thì cứ đầu mình mà tới (tóc bạc), muốn tránh cũng không được.
Phối ý hai câu thơ lại sẽ thành tiếng thở dài ngậm ngùi trong luận đề phi lý của triết học hiện sinh.
Hai câu đối nhau chặt chẽ, bàn lẽ rộng xa, nhưng chứng cứ thì hội tụ vào thân xác con người (mắt, đầu). Đây chính là đặc sắc của Thiền học Lý Trần Việt Nam. Sống bền chắc với đời để mà vui cõi đạo (Cư trần lạc đạo).
Nắm chắc giáo lý vĩnh cửu của Phật Pháp nhưng các thiền sư vẫn lắng nghe tiếng đập cửa hằng ngày của cuộc đời. Tất cả nằm trong câu 3 và 4. Có thể thuyết luân hồi chưa đủ cho lòng người yên ổn chăng?
Vì vậy mà những nhà thơ đời thường như Xuân Diệu đã nói lên tiếng nói của tình yêu lứa đôi, của khổ đau và hạnh phúc, của những trăn trở vui buồn, được mất. Tiếng than trách đó ta nghe quá nhiều qua thơ văn mới thời tiền chiến như:
“Yêu là chết ở trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu
Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu”
Người ta đã tính toán so đo trong tình yêu – cho và nhận. Đó là thứ tình yêu ích kỷ, muốn chiếm đoạt, cho nên họ buồn chán đau khổ than khóc. Cho nên họ khác với các thi sĩ thiền sư, họ đâu thấy được đông tàn xuân lại đến, hoa rụng rồi hoa lại nở khi mùa xuân mới lại trở về.
Chế Lan Viên cũng thấy xuân đang đến nhưng không thấy được mùa xuân tươi mới mẻ. Xuân đến mà ông lại than:
“Tôi có chờ đâu có đợi đâu
Đem chi xuân lại gợi thêm sầu
Với tôi tất cả đều vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau.”
Có lẽ trong một lúc nào đó thấy cuộc sống là vô vị, vô nghĩa, một ngày như mọi ngày, cuộc sống cứ trôi đi trong cái “hỉ nộ ái ố” nên chỉ thấy khổ đau, buồn chán mà không nhìn thấy được cái hạnh phúc tái sinh của muôn loài qua dòng trôi chảy.
Không là nhà tu, không là thiền sư nên người đời đã đánh mất niềm tin yêu hy vọng. Họ đâu thấy được hoa rụng rồi hoa nở. Họ chỉ thấy sinh già bệnh chết, cuộc đời ngắn ngủi quá, cuộc sống phi lý quá! Làm sao thấy được hết chu kỳ của cuộc sống, con người và cỏ cây hoa lá lại tái sinh. Xuân, Hạ, Thu, Đông, rồi lại Xuân. Người già cứ đi vào cõi thiên thu thì trẻ thơ, em bé lại được sinh ra để rồi đi vào đời, biết đâu với một tâm hồn mới mẻ, trẻ trung hơn.
Dòng đời cứ trôi chảy như luân hồi sinh tử, như dòng thời gian cứ cuốn trôi sáng trưa chiều tối, như bốn mùa luân phiên đổi thay.
Trong “Phấn Thông Vàng”, Xuân Diệu đã nhìn cuộc đời trôi đi với nỗi chán chường tuyệt vọng, cũng cố ngoi lên để sống, nhưng là cái vươn lên của những người níu kéo cuộc sống trong tuyệt vọng. Cũng chỉ là “để tìm quên” mà thôi!
“Ai lại không nghe ít ra là một lần nỗi đìu hiu của ao đời bằng phẳng. Chúng ta nhảy múa gào khóc, quay cuồng để cho có việc, nếu không ta sẽ thấy một sự vắng vẻ vô cùng thê lương. Và dù siêng năng đến đâu đôi lúc ta cũng bắt gặp ở đáy hồn ta một nỗi trống không rất tuyệt vọng”.
Xuân Diệu thời hiện đại mà cũng còn viết
“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”
Xuân đến, hoa nở, nhưng mùa hoa này với ông không còn như mùa hoa trước.
Thơ nhân loại cổ kim đã có nhiều bài diễn đạt thành công nỗi buồn tức tưởi của con người như Thôi Hiệu của Trung Hoa viết:
“Hạc vàng bay mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ vẫn bay.”
(Tản Đà dịch)
Một nhà thơ của Ý, Salvatore Quasimodo, bên trời Âu cũng thấy nỗi buồn cô đơn:
“Mỗi người đứng một mình
Trên trái tim quả đất
Lòng xuyên qua tia nắng mặt trời
Và chưa chi chiều đã tắt”.
Cho nên học tu là học buông bỏ, chấp nhận cuộc sống như nó vốn là, nó cứ đến rồi nó cứ đi, nhưng ta thì vẫn phải sống.
Bài thơ của vị Thiền sư thế kỷ 11 là một quá trình giác ngộ chân lý. Câu thơ “Đêm qua sân trước một cành mai” đã hòa nhập với câu thơ “Vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh” của hòa thượng Mãn Giác thế kỷ 20 để từ đó cùng nhau:
“Ta từ sinh tử về chơi
Ngồi trên chóp đỉnh mỉm cười với trăng.”
(Huyền Không – HT Mãn Giác)
Xuân đi xuân đến, hoa rụng hoa nở là niềm tin yêu hy vọng cho chúng ta. Hãy vui cùng Xuân mới, hãy cười với ngày Tết đến vì không gian đang đổi mới, ta cũng hy vọng hồn ta cũng mới theo. Những tâm hồn già nua ưa triết lý, lý luận thì dù triết lý lý luận có nhanh đến đâu cũng không thể bắt kịp nhịp đời đổi mới này.
Chỉ những tâm hồn trẻ thơ, không toan tính so đo, không chất đầy ý tưởng, những tâm hồn luôn mở rộng cửa đón chào sự sống nảy sinh trong từng giây phút mới là những tâm hồn sống thực sự trọn vẹn. Đó là những tâm hồn luôn mới mẻ.
Cho mãi đến bây giờ tôi mới hiểu tại sao nhân gian lại gọi ngày Tết là “Tết Di-Lặc”. Vì ngài là Phật của Tết, của Xuân. Vì Phật Di Lặc đã mãi mãi mang một nụ cười.
Có thứ màu trẻ trung nào hơn để trang điểm cho trẻ mãi bằng nụ cười? Phật Di Lặc không chỉ cười một lần. Ngài cười suốt thiên thu. Mùa Xuân trong cửa Phật thật có khác.
Nhưng làm sao cười hồn nhiên được khi lòng chất chứa bao thị phi ngang trái, thân dính mắc bao cảnh đời danh lợi nổi chìm? Nhà Phật bảo: “Buông xả, buông xả”.
Chỉ hai tiếng mà vẽ nên nền Đạo thiên kinh vạn quyển. Thì ra kinh đã vẽ đường cho chúng ta đi. Và đi là “vượt qua, vượt qua”. Vượt qua là buông xả, buông xả là vượt qua.
Có người hỏi Hóa thân Di Lặc:
- Phật Pháp là gỉ?
Hóa thân bỏ bị vải xuống.
Hỏi thêm:
- Có gì hay nữa không?
Hóa thân vác bị cất bước lên đường.
Trừu tượng một chút, ta có thể nghe được:
- Phật Pháp là gì? – Là buông xả
- Có gì hay nữa? - Sống
Thì ra buông xả mà vẫn cứ sống, sống khắp nơi, khắp chốn mà vẫn cứ là buông xả hết mọi sự.
Cũng có người hỏi Hóa thân Di Lặc:
- Hòa thượng ở đâu?
Hòa thượng đáp:
- Bình bát cơm ngàn nhà, thân chơi muôn dặm xa. (Nhất bát thiên gia phạn, Cô thân vạn lý du.)
Âm hưởng của câu thơ chữ Hán nồng nàn và mênh mang, cho ta hình dung được nỗi cô liêu của một con người.
Sử sách ghi thêm một hóa thân Đức Di Lặc: cũng cốt cách anh hùng mà hồn nhiên trẻ thơ đến lạ.
Ngày nhỏ tôi thuờng theo mẹ đi chùa nhưng tôi không vào lễ Phật mà thường quanh quẩn bên tượng Phật Di Lặc. Tôi thích nụ cười của Ngài, cười toe toét, cười một cách thoải mái. Năm đứa bé phá phách đeo bên mình móc tai móc mũi móc miệng … mà Ngài vẫn cười. Ngài là con người hạnh phúc, con người của mùa Xuân, ai nhìn vào cũng thấy hoan hỉ, cũng muốn cười theo. Nhưng làm sao cười được như thế? Chính là do tâm Ngài hỷ xả.
Bỗng một ngày tôi gặp được hai câu:
“Bụng lớn năng dung, dung những điều khó dung trong thiên hạ
Mắt từ thường xả, xả những điều khó xả của thế gian.”
Được ghi dưới tấm ảnh vẽ hình đức Di Lặc. Tôi thích chí vô cùng và cố gắng nguyện sống được phần nào theo câu kệ ấy. Nguyên văn chữ Hán tôi cũng tình cờ đọc được:
“Đại đổ năng dung, dung thế gian nan dung chi sự
Hàm nhan vi tiếu tiếu thế gian nan tiếu chi nhân.”
Cái duyên may cho tôi được đến với Ngài, yêu Ngài, kính Ngài và học theo hạnh hỷ xả của Ngài qua hai lần tình cờ đọc kệ và kết hợp lại và tâm đắc.
Và ngày nhỏ xa xưa ấy tôi đã yêu thích nụ cười hồn nhiên tự tại ấy của Ngài cùng năm đứa bé đeo quanh Ngài. Ngày ấy tôi cũng hay sờ vào cái bụng lớn của Ngài rồi tự nhiên tôi cũng cười theo vui vẻ cùng Ngài và mấy đứa bé.
Tôi là một Phật tử đi chùa nghiệp dư, kinh kệ không thuộc nhưng tin tưởng rằng chỉ một lòng hướng Phật trong sáng cũng đủ cho tôi có quyền tới lui viếng chùa học Phật.
Những năm tháng ở quê nhà, tôi chưa hề biết học Phật, không hề biết đến Phật pháp, chỉ biết mình theo đạo Phật vì gia đình ông bà tổ tiên thờ Phật, và mỗi đứa con cháu trong gia đình đều được đem đến chùa quy y lúc được một, hai tuổi.
Lớn hơn một chút rồi học hành ra trường và đi xa, tôi được mẹ đeo vào cổ một sợi dây chuyền tượng Quán Thế Âm với lời dặn: “Gặp khó khăn, bất trắc, bệnh hoạn, con hãy cầu ‘Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát’ thì Phật Bà sẽ giúp con vượt qua mọi tai ương hoạn nạn”.
Mãi đến khi mẹ tôi gặp được Ni Sư Trí Hải, mẹ tôi mới thật sự học Phật và dẫn dắt tôi theo Sư để bước đầu đi vào đường Đạo. Nhưng một hai năm bên Sư tôi cũng chưa thật sự học hiểu và hành, nhưng tôi đã bước đầu tin yêu và quý trọng những lời nói vàng ngọc của Đức Thế Tôn. Tôi chưa biết hệ thống hóa nền đạo lý của Đức Phật để biết được Phật Pháp của Đức Thế Tôn bắt đầu từ đâu.
Khi rời nước ra đi và định cư tại Mỹ bỗng dưng thấy mình đã đạt đến chân trời tự do, nhưng sao lại thấy lòng mình tràn dâng một mối thương tâm. Thương cảm cho chính mình và thương tiếc một quê hương mãi mãi khổ đau trong đó có những người thân trong gia đình, bạn bè và tuổi trẻ đang khát khao đi tìm một phương trời cao rộng. Những trăn trở thao thức đó trong tôi dần dần được giải tỏa do tôi bước đầu được học Phật, nghe Pháp. Kinh điển, lời dạy, bài giảng, những điều được khuyên nhủ qua các hòa thượng, thiền sư, thiện tri thức ở đây quá nhiều cho tôi tha hồ tìm hiểu. Những buổi thuyết pháp, những phương thức tu học rồi tâm truyền tâm, miệng truyền miệng, tất cả đã giúp tôi mạnh dạn học và hành để đi dần vào Đạo. Cuốn sách đầu tiên tôi được đọc, hiểu và thích thú đã giúp tôi “từng bước nở hoa sen”, đó là cuốn “Đường Xưa Mây Trắng” của thầy Nhất Hạnh. Cuốn sách đã hệ thống hóa trong tôi nền đạo lý siêu việt của Đức Thích Ca, cho tôi niềm tin yêu với đạo Phật, với Tam Bảo, mở ra cho tôi một chân trời Từ Bi và Trí Tuệ, giúp tôi tâm đắc với các bài giảng dạy của Đức Thế Tôn qua hai bài “Tứ Diệu Đế “ và “Bát Chánh Đạo”.
Mới học Phật thì tưởng dễ dàng vì dễ hiểu, dễ thấy được nỗi khổ niềm đau của chính mình, rồi cũng thấy cách điều trị thật giản dị, chu đáo và rõ ràng. Phật như một triết gia, một nhà tâm lý học, một giáo sư tận tụy giúp chúng ta hiểu được Đạo và Đời qua lăng kính Triết hoc, Phật học. Phật như một bác sĩ chân tâm dìu dắt, chữa trị những trạng thái bệnh hoạn trong thân, tâm, ý của ta. Chưa có ai giúp ta nhìn thấu suốt tâm can của mình để phân biệt thiện ác, để cố gắng tìm đến con đường Chân Thiện Mỹ như những lời vàng ngọc của Phật. Tôi tin chắc ai mới học Phật cũng đều thấy sung sướng hạnh phúc pha lẫn
Một chút hãnh diện. Thế nhưng học Phật và hành Pháp thật không dễ vì hai chữ “vô thường” chợt đến, chợt đi, để những vướng mắc sai trái cũng chợt đi rồi chợt đến; rồi vọng tưởng tràn về luôn luôn làm bận rôn tim ta. Nghe cách chữa trị dễ quá nhưng thật khó khăn để vứt bỏ, buông xả. Cho nên phải học thêm chữ Nhẫn. Cứ kiên nhẫn học hành, tu sửa …
Đao Từ Bi và Trí Tuệ sẽ giúp ta giảm thiểu được lòng tham, bỏ bớt được tính ích kỷ, chấp trách, ganh tị, và hiểu sâu xa hơn về các từ được mất, hơn thua, đau khổ, hạnh phúc, có không. Ta cứ trăn trở, cứ cố gắng đạt cho được những điều ta muốn rồi cũng đến lúc ta thấy tất cả đều vô nghĩa. Đến lúc đó ta sẽ được uống viên thuốc an tâm và bình an đi vào Đạo. Thật sự là rất khó, nhưng cố gắng, quyết tâm rồi cũng sẽ đi đến nơi dù chậm chạp và gặp nhiều khó khăn cản trở.
Tôi đã chọn được con đường tu học cho mình. Đó là con đuong “Bồ Tát Đạo”. Tôi học được ý nghĩa sâu xa của hai chữ “cho” và “nhận”, nhưng cũng phải lâu lắm tôi mới thấy được “cho” tức là “nhận”. Người cho tức là người nhận, mà là nhận quá nhiều. Ta tưởng ta giúp người mà thật sự là người đã giúp ta. Trước hết cho ta vững tin để mạnh dạn hơn mà vào Bồ Tát Đạo, thứ đến là niêm vui và hạnh phúc người nhận giúp ta nhận được chân giá trị của lòng Từ Bi và Hỷ Xả. Một bài tu học của pháp môn Tịnh Độ viết:
“Hành thập thiện cho đời tươi sáng
Bỏ việc ác để đời quang đãng
Đem phúc lành gieo rắc phàm nhân
Lời ngọc vàng ghi mãi bên lòng
Con nguyện được sống đời rộng rãi”
Xuân đang về , Tết đang đến, hoa đang nở, nắng xuân đang rực rỡ ấm áp. Xin hãy ươm mầm hy vọng và tin yêu vào một năm mới tràn đầy hạnh phúc và bình an. Cái cũ đã đi vào dĩ vãng, ta đang có một năm dài mới mẻ với cái tâm mùa Xuân để cùng với hai vị Thiền Sư thấy:
“Vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh”

“Đêm qua sân trước một cành mai”
Đức Di Lặc đang vui cười đón chúng ta vào thăm Mùa Xuân trong Cửa Phật.
Chúng ta đang vui với Đạo nhưng chúng ta vẫn còn ở trong đời (Cư trần lạc đạo), cho nên chúng ta không thể chỉ cười với Đạo mà không đau cái đau của một đất nước nhỏ bé và con người khổ sở nghèo nàn của xứ Haiti vừa bị thiên tai tàn phá với trận động đất quá lớn đã san bằng ca một thành phố và giết chết một số lớn cư dân. Tai ương hoạn nạn đến nhanh quá, đa số sống sót bị thương nặng, mất hết nhà cửa, vô gia cư, mà ngay cả tổng thống Haiti cũng cùng chung số phận. Ông trả lời phỏng vấn: “Tôi cũng chẳng biết rồi sẽ ở đâu!”
Đau lòng quá, thương tâm quá! Biết làm gì hơn là cầu nguyện, cầu siêu cho những người chết tức tưởi được bình an trở về thế giới bên kia, và cầu xin cho người còn sống có đủ sức và lực để vượt qua được nỗi đau đớn mất mát quá lớn này.
Cả thế giới đều bàng hoàng xúc động và cùng hướng về xứ sở nhỏ bé ấy, đem trái tim yêu thương đến xoa dịu cái đau tàn phá hủy diệt này. Tất cả đều đến đây, cố vực dậy những đổ nát hoang tàn, đem thực phẩm thuốc men với hai bàn tay và khối óc để cứu giúp, chữa trị, hàn gắn những vết thương đau từ tâm hồn đến thể xác vật chất. Từ Bi và Bác Ái đang chung sức làm việc để tái tạo con người và đất nước nhỏ bé đau thương ấy.
Còn chúng ta thì xin cùng đến Nhà Thờ, Chùa để cầu xin Đức Chúa, Đức Phật ban ơn lành giúp người hoạn nạn. Với cái Tâm Xuân và lòng thành kính, chúng ta xin một mùa Xuân mới sẽ đến với đất nước Haiti, với sự góp tay của mọi người cùng xây dựng lại những đổ nát, hàn gắn những đau thương.
Xin Đức Bồ Tát Quán Thế Âm cứu khổ cứu nạn.
Đức Phật Từ Bi Trí Tuệ đang nghe lời nguyện cầu của chúng ta.
Cầu xin được an lành và bình yên cho nhân loại.
Trọng Đông 2010
Hoàng Hương Thủy



Wednesday, January 6, 2010

20 Năm có Nhà

Cái sợ người ta sợ nhất là chết, nhưng chết thì ai cũng phải đi qua và một lần thôi rồi hết. Cô đơn đáng sợ hơn nhiều. Thử tưởng tượng ngày này sang năm nọ, cứ phải trăn-trở-lủi-thủi đi qua cuộc đời phức tạp này. Sợ như không còn gì đáng sợ hơn nữa.

Có một lần tôi đã hát……
“Bước vào đời trăn trở
Gặp em như giấc mơ
Sao nghe lòng vẫn nhủ
Ngày vui đến bao giờ….”

Đến hôm nay là 20 năm. 20 năm có nhà. Một căn nhà nhiều lắm hạnh phúc hơn muộn phiền mà trong đó tình yêu thương, sự cảm thông và lòng chia xẻ là chìa khóa mở toang tất cả những cánh cửa u uẩn.

… Ngày vui đến bao giờ…. Đến hôm nay là 20 năm. 20 năm có nhà. Một căn nhà nhiều nhiều lắm lắm hạnh phúc vì nhà đã mọc lên hai bông hoa tuyệt vời hài hòa đầy sức sống.

...Ngày vui đến bao giờ… Đến hôm nay là 20 năm… và nhiều năm sau nữa.

Nguyễn Hòang Hà –Jan 06, 2010

Thursday, February 26, 2009

CAFÉ.... Ba và Con Gái

T.N. Phương Thảo

Một ngày của tôi bắt đầu bằng ly cà phê. Tôi cứ tưởng chừng như thiếu nó thế giới này sẽ ngừng lạiKhi tôi bắt đầu nhận thức được thế giới xung quanh, cũng là lúc tôi biết uống cà phê.Ngày đó mỗi sáng mẹ tôi thường thức dậy sớm làm thức ăn sáng, pha café cho ba và sữa cho chị em tôi . Ba thường hay nhỏ cho tôi vài giọt café vào ly sữa của con gái và tôi khoan khoái nốc cạn. Mẹ dĩ nhiên là cự nự ba nhưng ba có bài lơ hay lắm. Rồi từ vài giọt tôi nằn nì ba vài muỗng. Ba dĩ nhiên là không từ chối con gái bao giờ, cũng như bây giờ thì không tài nào từ chối cháu ngoại. Rồi dần dần ly sữa của tôi chuyển màu đậm hơn. Đến năm mười tuổi thì tôi đã đĩnh đương ké café sữa của ba. Rồi thì thời thế đổi thay, ba vào trại cải tạo. Ly sữa café tuổi thơ của tôi đã vĩnh viễn là chuyện của ngày hôm qua. Cuộc sống khó khăn café trở nên là thứ vô cùng xa xỉ thời đó. Tuy vậy, những lần hiếm hoi được đi thăm ba trong trại cải tạo mẹ không bao giờ quên mua cho ba vài lạng café cùng với các thứ nhu yếu phẩm linh tinh khác. Kể cả lúc bị đưa về Chí hòa ba cũng vẫn thường cùng các chú bác cùng phòng dùng lon guigoz và giấy và bao nilong để nấu nước pha café.Rồi ba trở về. Café lại trở lại với tôi. Chả bao giờ có đủ tiền để mua một lạng café, ba thường sai con gái mua lẻ ở quán café “Nhà mồ” góc đường Duy Tân và Phan Đình Phùng, từng phin một với một tí bơ dính ở đáy tách. Dĩ nhiên là tôi hăng hái đi liền để còn được ké của ba vài hớp. Lúc này café với tôi là café đen, màu đen nâu óng ánh thơm nức chứ không còn là café sữa dạo nào. Ba đi rồi tôi cũng vẫn mua café về tự pha uống với mẹ và em gái. Thế đấy café đã dần đi vào cuộc sống của tôi từ những giọt café đầu tiên ba nhỏ vào ly sữa mẹ làm cho tôi.Không biết bây giờ tôi có phạm sai lầm không, khi tôi lại để cho con gái tôi nhâm nhi cà phê buổi sáng. Khởi đầu cũng từ những giọt café vào ly sữa trắng. Tôi đã không nỡ từ chối vẻ năn nỉ của con. Nhìn hai con gái khà khoái chí sau mỗi hớp sữa café tôi lại tặc lưỡi “kệ”.Quả thực khó có thứ gì đắng, thơm, mạnh mẽ, dể nghiện và… khó quên như café, ba và hai con gái nhỉ.

Tuesday, January 27, 2009

Vang Vang Trời Vào Xuân

Tháng Giêng.

Đất trời sang Xuân. Mùa Xuân lại bắt đầu bốn mùa trong năm. Tiết Xuân lạnh mát từ từ thay cái lạnh buốt của mùa Đông. Cỏ cây hoa lá đâm chồi nẩy lộc như chiếc áo mới khoác lên người thiếu nữ thanh tân. Nhũng tiếng hót của đàn chim trong buổi bình minh đánh thức giấc ngủ dài trốn Đông của vạn vật. Trên khung trời xanh, từng đàn chim én lượn bay như những nét họa bay bướm của bức tranh Ngày Xuân Mới.

Ngày Xuân Mới cầu xin cho một vận hội mới bắt đầu. Xin cho lòng người đang ủ dột trong cơn bệnh kinh-tế-trầm-cảm được thoát thai. Hãy bước những bước chân mới tràn đầy tự tin vào ngày mai sẽ tươi sáng hơn vì ngày hôm qua đã quá u tối và không thể nào u tối hơn được nữa. Cuộc đời vẫn có những lúc con người phải tựa vào niềm tin ở đấng trên cao, cần tình thân ở chung quanh mình, và tin ở tự mình, thì đấy là lúc này đây.

Với những thân tình của tôi ở Nam Bán Cầu. Trời đất ở “miệt dưới” có lẽ đang vào Thu. Nếu mùa Xuân đẹp rạng rỡ như những thiếu nữ thanh tân thì mùa Thu đẹp mặn mà như những thiếu phụ liêu trai. Vậy thì xin được nối hai mùa ở Sydney như một mùa lạ – Mùa Xuân-Thu.

Và như thế, với tất cả thân tình tôi ở khắp mọi miền. Hãy mở toang tất cả những cánh cửa để ngắm bức tranh Mùa Xuân Mới thật đẹp ngoài kia, để nghe hoa lá thì thào lời tình tự, và để nghe nắng gió hát lời ca khúc Vang Vang Trời Vào Xuân (Cung Tiến).

Lời cuối, xin được gửi tất cả những thân tình một chân tình tôi.

Nguyễn Hoàng Hà – Tháng Giêng. Kỷ Sửu. 2009

Wednesday, December 3, 2008

Chuyển Mùa Thu Đông

Trời chuyển mùa từ Thu sang Đông rồi đấy.

Những cơn mưa đã bắt đầu và dai dẳng trên vùng Tây Bắc làm ướt mềm gót chân Seattle. Mưa tràn giang Portland, mưa trải dài xuống Cựu Kim Sơn (San Francisco) và thung lũng Hoa Vàng (San Jose).

Không gian ướt lạnh buổi sáng Phố Thiên Thần (Los Angeles). Hồ Ly Vọng (Hollywood) cạnh bên cũng mù sương. SàiGòn nhỏ (OC) lất phất mưa bụi đủ làm ướt áo học trò đi học buổi sáng. Dọc đường ven bờ Tây Thái Bình Dương về đến San Diego trời mù không còn thấy biển.

Mưa cũng đã đến miền Trung Tây. Mưa không dai dẳng, mưa không còn lất phất mà là những cơn mưa rầm rộ chợt đến chợt đi như những tay súng bá vàng miền cao bồi Texas. Cái nóng ẩm đã nhường lại chổ cho cái lạnh ướt.

Bên bờ Đại Tây Dương hoa tuyết đã lất phất rơi. Gió không còn là gió heo may mà là gió Đông làm co chân khách bộ hành Nữu Ước (NewYork), Hoa Thịnh Đốn (Washington DC). Xa hơn nữa về hướng Bắc là thành phố cổ và thơ Mộng Lệ An (Montreal) của Gia Nã Đại có dòng sông Saint Laurent chia đôi bờ tả hữu tuyết phủ.

Tháng 12 - Màu sắc của mùa lễ lạc rực rỡ khắp nơi. Đèn vàng xanh đỏ nhảy múa trước nhà sau sân như điệu luân vũ sưởi ấm lòng người vào cuối ngày khi thời gian vào tối và không gian thì sẽ lạnh hơn. Các thương xá lấp lánh đèn và đèn, cây Noel vĩ đại đầy ắp trang sức, người mua sắm, người đi ngắm và quà cáp... Trẻ con nôn nao chờ đến phiên mình được chụp hình với ông già NOEL.

Christmas is around the corner, năm 2008 sắp hết và ngoài kia là cơn bệnh trầm cảm kinh tế trĩu nặng lòng người. Chỉ còn biết mong làm được một nụ cười và một cái nắm tay sưởi ấm những thân-tình-tôi một ngày đầu Đông.

Thursday, October 2, 2008

Đi thăm người già

Đến thăm ông bà Phong, một buổi chiều hè rực nắng của Cali. Ông bà là nhạc gia của cậu Lô. Lạ hè, sao lại thăm ông bà nhạc của cậu? Thật ra ông bà cháu mình đã có duyên gặp nhau trước cả cậu nữa, ông bà nhỉ. Khi mà Hà nhỏ còn chưa biết đến hai vị cháu chồng này và cậu Lô cũng chưa từng được gặp nhạc phụ nhạc mẫu bằng xương bằng thịt (Mỹ gọi là to meet in person) thì “chúng mình” đã quen nhau. Từ “chúng mình” của bà hơi hay đấy, nên con lại mượn từ “chúng mình” của bà để nói về “chúng mình”…. đấy…. nhỉ…

Bao năm không gặp với ông bà mọi chuyện vẫn như là của ngày hôm qua, thời gian dường như dừng lại. Lâu lâu gặp cháu ông bà hỉ hả nói chuyện. Với người già thì thường chuyện xưa thì nhớ chuyện nay thì quên. Câu chuyện với ông bà cũng vậy, chỉ là những chuyện “ngày đó…. chúng mình…” Ngày đó chúng mình là tựa một bài hát của Phạm Duy, mà có khi tay nhạc sĩ họ Phạm này mượn từ “chúng mình” của bà cũng nên… đấy….nhỉ… Hết chuyện xưa, hai cháu chuyển sang nhại giọng bắc của ông bà. Ông chỉ cười hiền, còn bà dường như không biết đang bị trêu, vẫn cứ thong thả chậm rãi kể chuyện… ừ …và…. à…đấy … nhỉ… Ra về lại còn có một gói mang về nữa chứ. Dù có khi chả ăn (vì sợ béo lên) nhưng chúng con vẫn nhận quà của bà… để thấy mình dường như nhỏ lại… Đến thăm ông bà vừa được ăn được nói lại còn được gói mang về nữa chứ.

Vậy thì nên lắm chứ, thỉnh thoảng lại đi thăm người già để thấy thời gian ở lại và để được sống chậm lại. Nhịp đời vội vã đôi khi làm chúng mình cứ vô tình đi lướt qua nhau, lướt vội qua cuộc sống để rồi khi dừng lại mới chợt nhận ra rằng mình chẳng còn “chút gì để nhớ và để quên” (lời thơ Vũ Định - nhạc Phạm Duy).



T.N Phương Thảo

Thursday, September 18, 2008

hôm nay tựu trường…

Hôm nay tựu trường, bồi hồi đưa con gái tới trường như hồi xưa mẹ dắt tôi tới lớp. Đã làm mẹ, vậy mà trong tôi vẫn tràn ngập cảm xúc lo lắng, bâng khuâng của ngày đầu niên học. Con gái tôi lần đầu tiên đến trường, jupe xanh áo trắng con bối rối bước theo mẹ. Thầy cô, bạn bè, sân trường, lớp học, hàng cây, ghế đá… tất cả đều lạ lẫm, mới mẻ với con. Con gái tôi chắc chắn sẽ như tôi của hơn 30 năm về trước, hoảng hốt, hồi hộp và lo lắng vô cùng….

Buổi học đầu tiên của con hôm nay, vẫn là mùa thu vàng hoa cúc cùng những trái phượng chín thơm thơm. Bồi hồi, tôi cùng con gái sải bước trên sân trường loang nắng. Thoáng đâu đó từ miền ký ức trở về bài tập đọc lớp một năm nào cô giáo bắt tôi học thuộc lòng mà đến giờ tôi vẫn còn nhớ cả từng dấu chấm, dấu phẩy….

“….Hằng năm cứ vào độ cuối thu lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường.
Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như máy cánh hoa tươi mĩm cười giữa bầu trời quang đãng.
Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy vì ngày ấy tôi chưa biết ghi và ngày nay tôi không nhó hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè nép dưới nón mẹ lần đầu đến trường lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.
Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đày sương thu và đày gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhungu lần này tôi tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, và vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học…”

Trích “Tôi đi học”
Thanh Tịnh

Tất cả rồi sẽ qua, chỉ còn lại không phôi pha những dư âm ngọt ngào của ngày đầu tiên đi học .
Không biết rồi đây khi lớn lên có bài tập đọc nào theo con làm hành trang văn chương cho con bước vào đời như bài tập đọc ”Tôi đi học” thuở nào của tôi và thế hệ tôi.
Tn - Phương Thảo - Niên học 08-09

Thursday, September 11, 2008

Chuyện bình thường - Ngày Vui Qua Mau

Những người học trò từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ những bước nhảy chân sáo đến trường cho đến lúc làm bài luận án tiến sĩ, tất cả hầu như đều có một niềm tiếc nuối khi mùa nghỉ Hè chấm dứt. Sách vở, bút mực, thầy cô, trường lớp lại bắt đầu những ngày mới. Những cơn nắng gắt từ từ dịu xuống và trong khoảng trời xanh kia đã có những ngọn gió mát nhẹ, làm đong đưa những sợi tóc của cô nữ sinh trên đường đến lớp. Những chú ve sầu đã ngưng hát, trả lại không gian êm ả cho hàng cây hai bên đường với tàn lá xanh biếc giao nhau. Những tia nắng trong vắt xen qua những khoảng trống của tàn lá rớt trên mái tóc mây của người con gái óng ánh như hạt thủy tinh. Nắng thủy tinh, như tựa bài hát của nhạc sĩ họ Trịnh.

Đưa một mùa đi, đón một mùa về. Một cậu bé vừa được lên một lớp học thì một người lớn vừa thêm một tuổi đời. Luật tuần hòan của tạo hóa vẫn như thế mà quay. Một buổi sáng thức dậy, thấy mình có thêm một sợi tóc bạc, mắt nhìn mờ thêm một chút, một nếp nhăn vừa xếp lại đâu đó ở trên da…. và mình sẽ nuối tiếc một tuổi xuân qua. Chuyện ấy cũng bình thường như học trò nuối tiếc mùa Hè qua. Người học trò sẽ buồn lắm khi một niên học mới bắt đầu mà mình không lên thêm một lớp, bạn bè cứ thế mà đi theo dòng thời gian, càng lúc càng xa. Người học trò ở lại cảm thấy cô đơn biết chừng nào. Vậy thì bạn ơi, một sợi tóc bạc đâu phải là nổi niềm hoài xuân, một nếp nhăn trên da phải là một dấu tích kỷ niệm đáng nhớ. Hãy thở những hơi thở thỏai mái hạnh phúc trong không gian và thời gian của mình. Chuyện bình thường như hết Hè, học trò đi học lại.

Wednesday, July 9, 2008

Cho con…

Cho con gái Hoàng Liên Như

Xí Muội sắp tròn 9 tuổi, cao gần bằng mẹ, ngoan ngoãn và dễ thương. Thời gian quả là mau. Gần 10 năm qua vậy mà cái cảm giác tươi nguyên ngày nào khi mẹ nhận biết đã có một thiên thần nhỏ giáng sinh trong lòng mẹ vẫn như là của ngày hôm qua. Niềm hạnh phúc ùa đến, vỡ òa trong nhà mình. Khỏi nói thì con cũng biết là bố mẹ đã vui như thế nào. Ông bà nội ngoại, cô dì chú bác đều hân hoan chờ đón đứa con đầu lòng của bố mẹ.
Một ngày, hai ngày rồi ba ngày… con lớn dần lên trong mẹ. Bà ngoại từ Mỹ về, bà nội ngoài Bắc vô, hai bà bắt mẹ ăn đủ các thứ mà bà tin là sẽ giúp cho con thông minh và đẹp đẽ, và cả thuốc bổ nữa, lại còn cái món sữa dành cho bà bầu ngang phè mẹ cũng phải trợn mắt nuốt … Các khoản cà phê cà pháo bia bọt đành phải cho trôi đi vào quên lãng ít nhất hơn năm.
Con vẫn lớn lên trong mẹ, từng ngày và từng ngày nằm tròn ủm trong đó. Mẹ ngỡ ngàng khi thấy vóc dáng mình thay đổi nhanh chóng. Rồi đến lúc áo dài cũng trôi đi vào quên lãng… mẹ bắt đầu mặc đồ bà bầu đi làm. Lúc đầu cũng hơi dị, có cảm giác mọi người đều nhìn bụng mẹ. Rồi thì cũng quen.
Và mẹ bắt đầu chờ nghe những cử động của con để nhận biết rằng con vẫn đang lớn lên từng ngày và khỏe mạnh trong mẹ. Mẹ đã chờ, chờ, chờ và đâm lo. Mười tám tuần rồi mười chín tuần, mẹ vẫn luôn từng phút, từng giây lắng nghe con. Và một ngày mẹ cảm nhận được cử động đầu tiên của con. Hạnh phúc đến ngộp thở khi mẹ nghe thấy được con quẫy đạp lần đầu vào tuần lễ thứ hai mươi của thai kỳ. Rồi thì con ngọ nguậy nhiều hơn trong bụng mẹ. Mẹ thấy bàn tay nhỏ xíu của con vuốt ve mẹ và bàn chân tí hon đạp lung tung. Có lúc mẹ lại thộp được cái cùi chỏ của con… Và thật hạnh phúc khi cưu mang một mầm sống, niềm hạnh phúc thiêng liêng vô ngần mà Thượng đế đã ban cho tất cả các bà mẹ trên thế gian này.
Rồi mẹ được biết thiên thần nhỏ của mẹ là bé gái. Vô cùng căng thẳng và lo âu khi bác sĩ cứ chậm chạp di chuyển đầu camera trên bụng mẹ. Và mẹ đã thở phào nhẹ nhõm khi bác sĩ báo kết quả ultrasound tốt và … mẹ đang có một con vịt con khỏe mạnh chèo đạp lung tung trong bụng.
Mẹ đã đếm từng ngày, từng ngày một cho đến ngày mẹ được nhìn thấy con, sờ nắn con, ngắm nghía và ôm con vào lòng.
Con ra đời ngày 6/7/1999 lúc 11:10 phút sáng. Tim mẹ như đập hụt một nhịp khi mẹ lần đầu nhìn thấy con. Vài phút sau, hồi hộp, lo lắng và cả háo hức mẹ bắt đầu khám phá con. Chầm chậm mẹ mở tấm khăn choàng quấn con và sau đó là quần áo. Run rẩy mẹ từ từ kiểm tra con, nào tay nào chân, nào lưng nào bụng … và cả đít nữa. Rồi mẹ lại chờ xem con bú lần đầu và cả lần đầu …. ị … Tất cả đều thông. Ơn Trời con hoàn toàn bình thường và khỏe mạnh.
Và mẹ chợt nhận thức rất rõ rằng mẹ đã có Con. Con là của mẹ và điều này là vĩnh cửu …
Giờ thì Xí Muội đã 9 tuổi. Chẳng mấy chốc rồi con sẽ cao hơn mẹ, bước vào tuổi thiếu nữ, tốt nghiệp Trung học rồi Đại học …. Tất cả rồi sẽ nhanh thôi. Và dù năm dù tháng có trôi qua thì cái cảm giác sâu lắng khi mẹ nhận biết được sự hiện diện của con trong mẹ vẫn luôn luôn là giây phút ấm áp và cảm động nhất trong cuộc đời mẹ.

Tôn Nữ Phương Thảo - 07/2008

Wednesday, July 2, 2008

Thơ Hoàng Xuân Sơn

Lúc tôi còn rất nhỏ ở Huế thì anh Sơn đã vào Sàigòn học, vì vậy không có kỷ niệm Huế giữa anh và tôi. Có một hai lần cùng với Mạ vào Sàigòn thăm anh ở khuôn viên CPS nằm trên khu đất của khám lớn Sàigòn thời còn là thuộc địa của Tây, sau này là Thư Viện Quốc Gia, Việt Nam Công Hòa, và bây giờ thì không biết “họ” dùng để làm gì. Hai lần vào đây thăm anh Sơn được gặp nhiều khuôn mặt văn nghệ một thời của Sàigòn xưa – anh Trịnh Công Sơn, anh Ngô Vương Toại, anh Hoàng Ngọc Tuấn, anh Đỗ Ngọc Yến, chị Lệ Mai (Khánh Ly)……vv…., được nghe chuyện ma khủng khiếp của anh Hùynh kể là anh đã nhìn thấy một đầu người đầy máu trong buồn tắm vì lúc trước Tây đã chặt đầu tù nhân ở đây. Rồi quán Văn, nơi anh Trịnh Công Sơn và chị Khánh Ly hát; rồi anh Ngô Vương Tọai bị “họ” bắn trên sân khấu trường đại học Văn Khoa Sàigòn; rồi anh Sơn bị “họ” pháo kích làm mất đi một mảng thịt mông….. Đó, kỷ niệm của tôi thuở nhỏ về anh Sơn.

Có một lần thằng em lên cơn ngăn nắp đột ngột đã dọn dẹp phòng của anh Sơn ở nhà chị Đức, vài ba cái chứng chỉ Đại Học Văn Khoa của anh đã bị thằng em vứt vào thùng rác chất ngất giấy của nhà xuất bản Trường Thi, hú vía, may mà thùng rác chưa bị mang đi và mấy cái chứng chỉ vẫn còn nằm trên mặt thùng.

Những năm tháng chật vật hiên tại và mù mịt tương lai sau mùa Xuân đại thắng của “họ”, anh em chúng tôi gần hơn vì tôi đã lớn, đã có thể góp mặt trong những buổi văn nghệ hát hò nhâm nhi cho qua thời buổi khó. Những buổi cùng với anh Sơn,anh Giang, và anh Bảo như những Brother Fours và Peter Paul and Mary, hay Lê Uyên Phương của Một Ngày Vui Mùa Đông hoặc Trần Quang Lộc của Lãng Du Ca…..hát cho những buổi tiệc tư gia của những đại gia thuộc phe nhà “họ” để trước là nuôi dạ dày thời khoai độn cơm hẩm, sau là chỉ cho “họ” biết cái êm ả, cái phóng khoáng, cái phong phú, cái tự do của văn nghệ thời chưa “thua”.

Để lại quê nhà một nơi, anh em mỗi người mỗi ngã, lâu lâu được gặp lại nhau giữa mưa tuyết trắng xóa lạnh cóng mùa Đông Montreál, hay giữa nắng vàng ấm áp hầu như của Saigòn Nhỏ, Cali. Thường xuyên hơn là gặp anh Sơn qua thơ của anh trên nhiều tạp chí văn học văn nghệ hải ngọai.

Từ ngữ trong thơ của anh Sơn thì vời vợi, nhiều khi vượt quá khả năng chữ nghĩa của tôi, nhưng đọc thơ của anh tôi vẫn cảm được, vì mình là Huế, mà thơ Hoàng Xuân Sơn thì Huế tận xương tủy. Sáu cũng Huế mà Tám cũng Huế. Và tận cùng lý do, anh và tôi cũng cùng từ một cái trứng Huế.
S ó n g L ụ a

Nhúng chân xuống nước. ghê hồn
bến sông lạnh mấy mùa son sắt nằm
đường về Văn Thánh xa xăm
cõng vai Thiên Mụ qua rằm nguyên hưong
biết đâu huyền hạ khai vườn
tiếng ve còn rộn hay buồn đã giăng
ơi hồn hoa dại lung lăng
thương sao ngọn cỏ cháy lằn roi đau
Nguyệt Biều dặn đáy nông sâu
bước chân thùy mị qua cầu nhắn tin
xin mưa về ngụ nắng hiền
sóng trên tà lụa còn nguyên áo mềm
Hoàng Xuân Sơn
22.6.08

Thursday, June 26, 2008

Vào Hạ

Gửi tất cả bạn bè Đại Trung Tiểu học.


Những chiếc bong bóng màu đen và dòng chữ màu vàng nhủ trưng bày trong các cửa tiệm báo hiệu mùa lễ ra trường. Những chiếc áo dài rộng “tiểu đăng khoa” chập chùng như sóng trong khuôn viên trường học, những chiếc nón hình thoi được tung lên trời cao, hân hoan chấm dứt một cấp lớp hay một đời kinh sử. Tất cả là hình ảnh rạng ngời để chào đón một mùa hè rực nắng.

Vào Hạ.

Bạn ơi, nhớ quá một thời của quần xanh áo trắng, của áo dài mát rượi hơn ba mươi năm về trước……..

Ngày xa xưa ấy
Có những chuyện tình
Trắng màu học trò
Ngày xa xưa ấy
Có những kỷ niệm
Thắm màu phượng đỏ….

Ngày xa xưa ấy, thời gian vô tư và thú vị nhất của một đời người. Thửo làm học trò. Thửo làm thơ tỏ tình rồi ngần ngại không biết làm sao đưa thư. Thửo gõ guốc trong sân trường và hằng mong có nhiều đôi mắt cuốn theo tà áo dài thướt tha. Thửo mặt chợt đỏ bừng vì vừa bắt gặp được ánh mắt nhìn trộm của người bạn trai cùng trường. Thửo theo “NGỌ”* về những buổi tan trường ngập đầy hoa phượng. Thửo trốn học ngồi si tình cô hàng cà phê bên con đường lá me giăng kín.
Thuở kỷ niệm trắng ngần một thời thơ ấy.

Nguyễn Hoàng Hà - Hạ/2008
*Ngày xưa Hoàng Thị - Phạm Thiên Thư

Wednesday, June 25, 2008

Huế Từ Phong Vũ

Hoàng Hương Thủy
Chị Thủy, chị của tôi.
Rất ngắn, không có chị Thủy, tôi không phải là tôi ngày hôm nay. Không có bút, không có văn, không có nhạc, và có lẽ cũng không có tâm, không có lòng trong tôi.
Rất ngắn, vì không thể viết hết những gì muốn viết về chị.
Chỉ biết, bây giờ - thấy CHỊ như thấy MẠ.
LoLo


“Huế Từ Phong Vũ” là tựa đề một bài thơ của Hoàng Xuân Sơn trong tập thơ “Huế Buồn Chi”.
Tôi mượn lời và ý của bài thơ để dễ dàng đến với Huế, với Đồng Khánh và Quốc Học khi mà tôi đã rời xa nơi chốn thương yêu ấy cũng đã hơn 45 năm. Vậy xin cho tôi được trở lại Huế, làm học sinh của Huế, ngày hai buổi dầm mưa đến trường, áo dài trắng sủng nước, chiếc nón lá phập phồng muốn bay. Rét mướt và ướt át, thế mà sao lại thấy quá vui và ấm áp? Có lẽ vì trên con đường Lê Lợi ấy lũ lượt bầy con gái Đồng Khánh và lũ con trai Quốc Học, rổn rảng nói cười hay e ấp kéo vành nón để che dấu đôi mắt vương tơ khi có một chàng Quốc Học đạp xe qua với ánh nhìn lung linh sương khói.
Nhớ Huế, nhớ trường học là nhớ mùa mưa bão lụt lội. Sung sướng nhất là tin mưa gió nặng nề, Đập Đá ngập nước, học sinh được về sớm… để rồi con đường học trò ấy đón nhận bầy con gái áo trắng tuôn ra từ các cổng trường như những cánh bướm chập chờn tung bay…
“Khi những cành cây gió đổi chiều
Tôi về nghe nặng bước xiêu xiêu
Hỡi ơi mưa gió là phong vũ
Mà suốt đời em tôi đã yêu.”
Hoàng Xuân Sơn gọi Huế dấu yêu một thời Đồng Khánh Quốc Học với tiếng “em” ngọt mềm, với tình yêu và nỗi nhớ khôn nguôi. Ngày xưa tôi yêu tiếng “em” của Vũ Thành trong “Giấc Mơ Hồi Hương” khi nhạc sĩ giã từ Hà Nội. Tiếng gọi “em Hà Nội” đẹp và tình như nỗi bịn rịn của người Hà Nội khi phải rời xa thành phố dấu yêu của trai thanh gái lịch. “Nhìn em mờ trong sương khói, bước đi nhưng chưa nỡ rời, lệ sầu tràn mi, đượm men cay đắng biệt ly…”
Hoàng Xuân Sơn đã làm sống lại nhạc tình muôn thưở của một nhạc sĩ tài danh. Cám ơn Hoàng Xuân Sơn đã cho tôi trở về Huế, về với Đồng Khánh Quốc Học trong một cuộc tình lỡ “Tóc mai sợi ngắn sợi dài, lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm.”
Cựu học sinh Quốc Học bây giờ đi tở mở khắp nơi. Các bạn cựu học sinh Quốc Học trong nước muốn gom lại những mảnh tình cho Huế, cho Quốc Học thành một khối tình của cái thời mới lớn, lãng mạn và đẹp nhất trong suốt cả cuộc đời để ghi dấu vào một tập san, mở rộng níu kéo bạn bè từ khăp nơi viết về Huế, về Quốc Học với những dấu ái khó quên…
Cô Diệu Trang dặn viết với chủ đề Quốc Học. Thật quá khó cho lũ con gái chúng tôi vào đầu thập niên 60, vì chúng tôi chỉ có một năm học cuối cùng ở đó. Lớp Đệ Nhất Quốc Học là niềm mơ ước của lũ học trò Đệ nhât cấp, của Đệ Tam và Đệ Nhị. Đàn anh, đàn chị mà! Quá oai!
Trước chúng tôi, các lớp đàn chị được học Quốc Học đến 3 năm vì Đồng Khánh chưa có cấp 3 Tú Tài. Sau lớp chúng tôi 3 năm, các cô đồng Khánh đàn em không phải rời Đồng Khánh, không được qua Quốc Học học chung với con trai, vì Đồng Khánh đã trưởng thành, lớn mạnh, có đủ thầy, cô, và học trò cho lớp Đệ Nhất.
Vào Đệ Nhất Quốc Học sau khi đã trầy vi tróc vảy để đậu được cái bằng Tú Tài bán của năm Đệ Nhi Đồng Khánh, chúng tôi đã phải vạch chương trình cho học hành, chăm chỉ. Phải đọc nhiều sách, tham khảo nhiều bài giảng được các Thầy, Cô nghiên cứu, giảng dạy và in thành sách. Cho nên năm Đệ Nhất Quốc Học, chúng tôi đã bớt vui chơi, hết mộng mơ và khép kín trái tim cho Học, Thi đỗ và tìm đường đi vào Đại Học. Chỉ có đỗ đạt mới tiến thân được thôi! Xin chào buồn năm phút, vì chúng tôi đang vào tuổi 17, 18, 19, tuổi của trái tim mới biết rung động, xúc động và cảm động. Biết yêu, biết thích …
Học Quốc Học có nghĩa là chúng tôi lần đầu tiên học chung với con trai sau sáu năm tu hành trong ngôi trường nữ Đồng Khánh. Áo trắng, tóc dài tung bay như bướm lượn dưới các tàng cây phượng xanh um, đỏ ối, hay khẳng khiu của bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông. Đẹp thật nhưng thiếu tình vì thiếu bóng dáng con trai áo trắng quần xanh, tóc ngắn…
Cũng có vài ngoại lệ. Vài bạn trai gái đã biết nhìn nhau, rung động rồi yêu nhau. Đó là những cặp tình nhân đẹp nhất đối với chúng tôi hồi đó. Nhìn họ đi bên nhau, áo trắng nàng bay vướng chân chàng, đôi mắt ướt sủng yêu đương. Nhưng tôi nghĩ họ chỉ dám nhìn nhau, đi bên nhau, và đã để cho đôi tay buồn bã buông thỏng hay ôm chặt cặp sách vào người. Chúng tôi nhìn họ lòng cũng rộn ràng ước mơ. Nhưng thôi hãy khép chặt bờ mi, ngậm ngùi thương tiếc một thời đang đẹp sắp đi qua…
Rồi cũng thi đỗ được Tú Tài 2. Đa số các bạn ở lại học Đại Học Huế. Đã có nhiều phân khoa: Sư Phạm, Văn Khoa, Khoa Học, Luật, Y khoa.
Những đôi nhân tình lại tiếp tục bên nhau trong giảng đường. Đại Học Huế lại bắt đầu đón nhận những tình yêu mới, chững chạc hơn, gắn bó hơn, vì các bạn trai gái đã lớn, đã biết trách nhiệm cuộc đời mình. Họ yêu nhau và cùng nhau nhìn về một hướng. Lại học hành, đỗ đạt, ra trường. Nhưng họ vẫn bên nhau, yêu nhau và nhìn đến một tương lai màu hồng cho một ngày mai…
Bây giờ nhìn lại, dù đi xa hay ở lại trong nước, những chuyện tình Đồng Khánh-Quốc Học đã đơm hoa, kết trái. Ở đâu cũng thấy những cặp “ôn mụ” rất Huế, rất Đồng Khánh-Quốc Học, thành vợ thành chồng, sinh sôi nẩy nở với những đứa con ngoan giỏi, rồi đến các cháu…
Dòng đời xuôi chảy, lũ chúng tôi đã vào tuổi 65, 66, 67. Con cái đã thành thân, thành nhân. Rồi cũng chồng chồng, vợ vợ, con con… để cho tất cả chúng ta bây giờ đang được làm Ôn Mệ, nội và ngoại.
Tôi không có duyên với Đại Học Huế vì tôi đang ở trong một hoàn cảnh khó khăn. Anh chị em chúng tôi không thể cứ bám vào người mẹ vất vả kiếm sống nuôi con. Không muốn thi vào những ngành nghề Trung cấp thì phải ráng tự xoay xở để vào học Đại Học. Nhiều ưu tư và trăn trở đã làm cho tuổi hoa niên của tôi không còn vui đẹp nữa. Và tôi đã chọn con đường vào học Đại Học Saigon vì ở Saigon tôi có việc làm ở nhà xuất bản Trường Thi. Chị họ tôi đã giúp tôi làm việc cho chị và dạy kèm hai đứa con của anh chị. Nhà xuất bản Trường Thi là nơi đã giúp đỡ rất nhiều sinh viên có điều kiện học hành, đỗ đạt và được tuyển chọn vào ban giáo sư để soạn bài, ra sách cho học sinh trung học.
Sinh viên Huế học hành vui vẻ, hăng say vì có đôi có bạn, có tinh thần học tập. Xứ Huế nhỏ, gọn và đẹp. Đại Học Huế đã gắn liền được bao cặp tình nhân xuất sắc để rồi khi ra trường thành vợ thành chồng, làm việc giỏi, xây dựng tương lai con cái đàng hoàng, sự nghiêp vững vàng và luôn tiến thân. Tôi có một vài đôi bạn vợ chồng đang là…
Học Đại Học Saigon là vô cùng cô đơn, và tôi đã thấm thía cái cô đơn ấy trong mấy năm. May mà rồi tôi cũng kiếm được một chàng Quốc Học mà lứa của anh ấy hồi đó là học trò trường Khải Định (Quốc Học sau này). Có được một chàng Huế Quốc Học là yên tâm, nhung Huế với chúng tôi cứ càng ngày càng xa. Chúng tôi làm việc ở Nha Trang, Đà Lạt và Saigon nên ít có dịp trở lại Huế
“Đời đẩy tôi đi những phố câm
Em biết nơi mô tội nghiệp giùm
Ôi chút phong tình thơ ấu cũ
Là bão tan dần đôi cánh chim”
Càng xa Huế tôi lại càng nhớ Huế và nhớ khôn nguôi hai ngôi trường yêu dấu mà Quốc Học là điểm hẹn cuối cùng của một thòi tuổi trẻ.
“Tôi nhớ hơn là chim nhớ mây
Nhớ mùa thu, nguyệt xuống heo may
Nhớ ơi, xa quá… ơi là nhớ
Mưa giọt vô tình trong đêm nay.”
Tôi nhớ bạn tôi, rất nhiều trong ngôi trường lịch sử này. Đáng lẽ tôi vào Đệ Nhất niên khóa 60-61 với Ấu Lăng, Ngọc Trinh, Ngọc Túy, Nhụ Hương, Hoàng Lan, Minh Túy, … nhưng vì hoàn cảnh tôi đã bỏ dở cơ hội. Năm sau, niên khóa 61-62 tôi mới chính thức vào học Quốc Học. Năm trước tôi phải đi xa, vào Saigon lo vài công việc nhà và chữa bệnh đau đầu.
Niên khóa này tôi đã gặp Bích Diễm, Lê thị Hàn, Phước Định, Quyên, Diệu Anh, và một số bạn cũ Phương Thảo, Bích Đào, Nam Trân, Kim Hương, Minh Nguyệt, Xuyến …
Bạn trai cũng khá đông nhưng tôi chưa thuộc tên hết. Tôi nhớ có Phương, Thuận, Bửu Chánh, Bửu Dũng, Tôn thất Dũng, Anh Tuấn … và một vài chú Điệu đi tu học chung.
Đệ Nhất là năm được học môn Triết đầu tiên. Học Đạo đức với một ông thầy trẻ mà tôi đã quên tên, Siêu Hình với thầy Uyên, và Tâm Lý với cô Diệu Trang.
Cô Diệu Trang là một cô giáo trẻ đẹp và mang vóc dáng của tài tử điện ảnh Liz Taylor qua nụ cười đằm thắm và êm đềm. Cô lớn hơn chúng tôi khoảng 3, 4 tuổi và đó là năm đầu tiên cô dạy học. Chúng tôi cũng rất hân hạnh làm lứa học trò đầu tiên của cô giáo trẻ. Cho nên Cô và trò trông ngang nhau.
Có thể có vài chàng trai trong lớp thích Cô, yêu Cô vì tuổi mới lớn lần đầu biết rung động trước một người đẹp, dịu dàng và trìu mến. Bọn con gái chúng tôi đa số cũng rất thích và yêu mến Cô như chúng tôi cũng đã từng yêu quý một vài cô giáo trẻ lần đầu vào dạy Đồng Khánh với lũ nhóc con Đệ Thất, Lục, Ngũ. Tôi vẫn luôn luôn nhớ cô Thanh Tâm, cô Quế Hương, cô Diên Chi, cô Thu Ba, cô Minh Châu …
Giờ học của cô Diệu Trang rất vui vì Cô là người thầy đầu tiên đưa chúng tôi vào môn Tâm lý học. Môn học này giúp chúng tôi biết nhìn ngắm lại mình với cái tuổi 18 quá đẹp - tuổi của lãng mạn, mộng mơ, tuổi chớm biết yêu, biết buồn, biết nhớ …
Nhưng cái bằng Tú Tài quái ác đã triệt tiêu những rung động, tình cảm đầu đời. Tất cả cho học Thi và Đậu để làm nhịp cầu bước vào ngưỡng cửa Đại Học. Đôi khi buồn quá vì thấy hồn mình đang thiếu thiếu một cái gì nên tôi thường lẩm nhẩm hát bài “Thơ Ngây” để làm dịu lại những rung động đầu đời vì “lắm buồn nhớ bâng khuâng, lắm yêu đương, lắm tơ vương, nước mắt không vơi hết lúc thơ ngây.”
Và Quốc Học, Đồng Khánh, Huế là người tình đầu tiên của chúng tôi.
Tôi xa Huế từ năm 19, xa trường, xa bạn, và tưởng là cái xa đó quá dài, quá lớn. Thế mà rồi tôi còn phải xa cả Việt Nam vào năm 1990.
Sau năm 1975, tôi đi dạy trở lại sau thời gian làm việc ở Bộ Xã Hội và làm trình dược viên cho một công ty nhập cảng thuốc Tây.
Tôi lại được gặp cô Diệu Trang cũng đi dạy trở lại sau thời gian làm Hiệu Trưởng ở NhaTrang. Tình cô trò bây giờ chuyển sang tình chị em, vì thầy Hồng Giũ Lưu là bạn của anh tôi và chồng tôi. Thầy Lưu còn là thầy giáo Toán của con gái tôi. Con trai Cô Thầy là bạn cùng lớp với con gái thứ hai của tôi. Một vòng tròn thân ái khép kín tròn trịa – như một chút duyên của trùng trùng duyên khởi – thuyết Duyên Sinh của nhà Phật.
Chừng đó đủ cho tôi được trở về với Quốc Học xưa để kết dây thân ái với Thầy Cô bạn bè cựu học sinh Quốc Học Huế ở Saigon. Được xem đĩa DVD mừng Xuân Mậu Tý của cựu học sinh Quốc Học SG, tôi được nhìn lại những khuôn mặt thân quen của Thầy Cô bạn bè làm lòng tôi chùng lại và nhớ ôi là nhớ …
“Mùa đông cứ Huế chao ôi nhớ
Những đứa con đau thắt nỗi nhà
Hỡi ơi cố lý là quê cũ
Áo trắng qua cầu em có qua.”
21/06/2008

Quán Cà Phê ở đường Đinh Tiên Hoàng

Hê...hê…hê…
Đúng là ….trôi nỗi nhưng không chìm….
Keep going, Ha` chè…để phêê eeeee…
Thấy Hà chè cầm viết, Hoàng Xì cũng ngứa nghề lắm, nhưng đời engineer đi làm thuê cho Xì Thẩu cực còn hơn cái job của mấy em Thúy Kiều thế kỷ 21 ở Thẩm Quyến này… Thôi thì có mấy đoạn viết về đường Đinh Tiên Hoàng đã lâu, post lên cho thằng Mập… phê chơi…..

“Lòng cuồng điên vì nhớ, ôi đâu người, đâu ân tình cũ…..” Cung Tiến.
Nói dóc chơi chơi về mấy cái quán hay mấy cái địa chỉ rong chơi khác của Sàigòn ngày xưa thì thằng nhỏ còn tỉnh táo được một chút, nhưng mỗi khi con đường Đinh Tiên Hoàng và cái quán cà phê Hân hiện ra trong trí nhớ của nó, thì nó lại như phát điên và rống lên …


Nổi nhớ đó của nó bắt đầu từ một bãi cỏ trong khuôn viên trường ngày xưa – cây đàn guitar sinh viên – giọng hát con gái học trò – Tóc em từng sợi nhỏ, rớt xuống đời làm song lênh đênh…… Nó rãi ngón tay trên cây guitar thùng, cố vuốt cho tròn những nốt nhạc cuối chót của bài hát – Từ lúc đưa em về, là biết xa nghìn trùng…..

Rồi chiếc Honda dame 50 đưa hai đứa nó băng qua những con đường tình học trò của chi khoa Thủ Đức, qua tới xa lộ rồi nhập vào dòng đời… Rồi người ta chợt thấy hai đứa học trò Sinh Lý Sinh Hóa cúp cua buổi học, lang thang trên đường Đinh Tiên Hòang chập chùng bóng nắng – Và quán cà phê Hân, và những hoa nắng xuyên qua những tàn lá me rơi xuống trên vai áo học trò của đám con gái Trưng Vương trong buổi chiều tan học. Khẻ mút nhẹ chiếc ống hút trên ly cà phê kem, đứa con gái đưa mắt nhìn ra đường… Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay… Nó hít mạnh một hơi Bastos… Ừ thì… Áo xưa dù nhàu, cũng xin bạc đầu…

Và đã ba mươi năm rồi (1971-2007), và nó cũng đã … bạc đầu, nhưng mỗi khi trí nhớ của nó được có dịp rong chơi trên những địa chỉ của kỷ niệm ngày xưa… là người ta lại nghe nó rống lên… “Lòng cuồng điên vì nhớ, ôi đâu người, đâu ân tình cũ…
Nhưng Dallas – LA xa quá…, làm sao con nhỏ bạn ngày xưa của nó nghe được… Thật khổ thân cho thằng bạn!!!
Hoàng Xì.

Tuesday, June 24, 2008

Mưa

Để nhớ mà "phê mưa" Sàigòn, một trạng thái thời tiết quý hiếm ở nơi đây - chốn xa quê nhà. Mượn bài của cô cháu để riêng gửi đến mấy thằng bạn thường trực lãng đãng khói mây trong cỏi nhạc Trịnh Công Sơn.
Lời người quản bút
...

Sàigòn chỉ có hai mùa mưa nắng. Sàigòn không có Thu và Đông. Mùa đông Sàigòn thì nắng vàng rực rỡ, Thu Sàigòn đong đầy những cơn bão rớt. Nhưng Sàigòn mùa Xuân lại có lá vàng rơi…”có mùa Thu nào đang ở lại…” (Trịnh Công Sơn). Mỗi độ tháng tư về hai hàng cây sao ven những con đường Pasteur, Duy Tân, Công Lý bắt đầu trút lá. Từng cánh hoa sao nhỏ tí, những trái sao như những nốt nhạc xoay theo gió tung thả tự do, và lá sao vàng rơi lả tả xuống mặt đường. Saigon vào khúc giao mùa…

Mùa mưa bắt đầu bay qua thành phố. Đã có những cơn mưa đầu mùa vào độ cuối tháng tư. Không khí dần nặng mùi hơi nước và thoảng mùi hăng hắc của hơi đất khi những giọt mưa đầu mùa rơi xuống. Mưa mang về cho Saigon làn không khí ẩm mát dịu sau những tháng dài nóng bức. Mưa mang lại những hoài niệm mênh mang cho người xa xứ.

Những ngày đầu lưu lạc đến xứ Mỹ nhiều năm trước tôi đã nhớ vô cùng những cơn mưa mùa hạ của Sàigòn. Trời Cali hiếm khi mưa. Khí hậu khô và hanh. Ít mưa nên Cali cũng hiếm cả màu xanh cây cỏ. Dọc suốt từ San Diego lên đến San Jose chỉ là những freeway chạy dài qua nhũng thành phố lớn nhỏ vàn những ngọn đồi cháy nắng… Lại ước gì được đạp xe duói hai hàng cây rợp bóng ven đường. Và lại nhớ lắm mùa mưa Sàigòn. Mong ước cháy lòng một đêm nào tỉnh giấc giữa khuya lại được nghe thấy tiếng mưa rơi đếu trên mái ngói, gõ nhịp lên những hè phố…

Rồi một đêm về sáng tôi lại nghe như có tiếng mưa – một cơn mưa xa từ chân trời lan đến. Tiếng mưa mong manh nhẹ nhàng như ru đã mang tôi về lại với những mùa mưa nhiệt đới ở quê nhà. Mơ hồ tôi bước ra hiên. Thế rồi chỉ một thoáng tôi nhận ra rằng đó chỉ là thanh âm của những vòi nước tự động cứ đến giờ lại phun nước tưới những thảm cỏ quanh nhà…


Tôi nhớ quá những cơn mưa rào cuối hạ của Sàigòn, những cơn bão rớt đi qua thành phố. Thèm một cơn mưa thật là mưa, những cơn mưa mang hơi thở quê nhà vơi mộng mơ lẫn phiền toái, những vui sướng lẫn khổ đau mà mùa mưa mang lại…

Sàigòn tháng sáu, tháng bảy giữa mùa mưa… Mưa sáng mưa trưa mưa chiều mưa tối. Mưa rào và cả mưa giông. Sàigòn tháng tám là những cơn mưa dầm, mưa bong bóng của những cơn bão rớt đi qua thánh phố.

Mùa mưa, mùa của nhũng kẻ mộng mơ.
Mùa mưa cũng là mùa nhọc nhằn thêm cho nhũng mảnh đời mưu sinh ngoài hè phố.
Có những lúc thức giấc nủa khuya nằm nghe tiéng mưa gõ nhịp buồn tênh trên mái nhà roi từ máng xối xuống hiên nhà, chột chạnh lòng với nhũng gánh hàng rong đi trong mưa gió. Những tiếng rao khuya mỏi mòn yếu ớt, những tiếng rao âm thầm buồn tênh của những kiếp người nhọc nhằn với gánh mưu sinh oằn trên vai.
Mưa, cả thành phố ngủ say.
Mưa gõ nhịp trên hè phố.
Mưa theo tiếng guốc cô độc của người kỹ nữ về khuya trong ngõ tối.
Mưa quất vào nhũng chiếc xích lôlặng lẽ đạp trong đêm…
Sàigòn mưa… “phố bỗng là dòng sông uốn quanh…” (Trịnh Công Sơn)

Mưa Sàigòn là cả một trời tuổi thơ tôi với những lần tắm mưa nhông nhông trong sân nhà, là những lấn tan hoc đạp xe dưới làn mưa trắng xóa…

Sàigòn bây giờ chật chội và đông đúc với những người và xe, nhà cửa và cao ốc… không còn khoảng trống nào cho con nít tắm mưa, không còn những con đường vắng cho những đôi bạn bè, tình nhân lang thang…

Có những khoảnh khắc, nhũng quãng đời không bao giờ trở lại như nước sông cứ mãi xuôi dòng….
Tôn Nữ Phương Thảo

Wednesday, June 18, 2008

Làng tôi

Người viết, Tôn Nữ Phương Thảo, người con gái thích chơi ngẵng từ bé, cháu gọi tôi bằng cậu. Cùng với mẹ và người em gái sang Mỹ đoàn tụ với cha sau bao nhiêu năm đợi chờ giấy tờ bảo lãnh. Học xong đại học ở Mỹ, một lần nữa chơi ngẵng và cường độ hơn, trở về Việt Nam làm việc trong ngành ngân hàng, lấy chồng và sinh con.
Phuơng Thảo sống và lớn ở Sàigòn, ra đi và trở lại Sàigòn. Vậy mà Huế vẫn luôn là giọt nước mắt nóng-hổi-ray-rứt-hòai-hương của riêng Phương Thảo. Và có lẽ cũng là của chung cho tất cả "Huế mình".
Huế buồn chi Huế không vui
Huế o ở lại Huế tui đoạn đành
o đau sương khói một mình
tui đi ray rứt Nội thành tái tê
Trích trong Huế Buồn Chi của nhà thờ Hoàng Xuân Sơn, một rất "Huế mình" và cũng là cậu của Phương Thảo.


Làng Long Hồ của bà ngoại tôi là một ngôi làng nhỏ bên bờ sông Hương, cách thành phố Huế chỉ khoảng 3 cây số đi từ hướng chùa Thiên Mụ vô. Thời thơ ấu tôi đã đến đó nhiều lần cùng với mẹ. Nhiều năm trôi qua, vật đổi sao dời, moi thứ đã thay đổi nhưng ký ức về ngôi làng nhỏ đó vẫn tươi nguyên như ngày nào trong lòng tôi. Nhịp sống thanh bình ờ làng vào những buổi chiều tà thơm mát như vẫn còn đâu đó trong tâm tưởng.

Chiều xuống dần, khi mặt trời hãy còn lấp ló sau dãy Ngự Bình thì cũng là lúc những người nông dân về nhà sau một ngày dài phơi mình với đồng ruộng. Vài con chó vẫy đuôi sủa mừng đón chủ. Những con trâu đang chậm rãi bước về chuồng. Nằm vắt vẻo trên lưng một con trâu, anh trai làng đắm mình trong điệu sáo trúc. Đây đó vài em bé đang thả diều, xa xa đàn bò lười biếng nằm nhai lại….

Bên bến sông làng cô thôn nữ vừa vo gạo nấu cơm chiều vừa nghêu ngao hát một bài dân ca cũ. Xuôi theo dòng Hương giang, một con thuyền câu lững lờ trôi. Hai bên bờ sông, những lũy tre xanh ngát soi mình xuống dòng sông xanh. Và về phía những cánh đồng là những vạt lúa chín vàng mênh mông óng vàng trong ánh chiều tà.

Chiều muộn hơn, khói bếp bắt đầu lan tỏa. Mùi cơm chín, thịt nướng, mùi rơm rạ đun bếp và cả mùi oai oải của phân trâu bò khô quyện lại thành một thứ hương quê mê đắm.

Xa xa vọng lại tiếng chuông chùa Thiên Mụ. Tiếng chuông chiều tan vào buổi chiều kết thúc một ngày. Tiếng chuông chiều đó có lẽ còn xưa hơn bài dân ca cô thôn nữ hát, vẫn ngân nga mỗi chiều từ thuở hồng hoang ngôi làng bước vào cuộc sống.

Một ngày như mọi ngày ở ngôi làng cổ. Mọi thứ vẫn vậy. Chẳng có gì mới hơn. Người dân quê vẫn sống cuộc đời thường nhật. Tiếng chuông chiều vẫn ngân nga mỗi chiều từ hàng trăm năm nay, kéo dài quá khứ nối liền hiện tại cũng như bài hát dân ca cũ các cô thôn quê vẫn hát mỗi chiều.

Dạo đó mẹ tôi vẫn thường đưa hai chị em tôi về làng mỗi độ hè về. Tuổi thơ tôi ở đó cũng như bao đứa trẻ quê khác đong đầy những trò chơi quê với ô làng (ô quan), đánh đũa, cưỡi trâu, thổi sáo, thả diều….

Rồi một ngày chiến sự lan đến vùng làng quê nghèo khó của tôi. Đó là những ngày đầu xuân 1975…
Dân cư khắp bốn vùng chiến thuật tràn về thành phố. Ngôi nhà ở Saigon của gia đình tôi chật đầy bà con, họ hàng, bạn bè. Người đến từ ngôi làng nhỏ Long Hồ, người vô từ đô thị Huế gần đó, số khác từ miền Trung du xuống…. Tất cả đều tản cư về phương Nam để tránh những trận chiến khốc liệt của quân Bắc Việt. Tôi đã thật vui mừng gặp lại những người bạn cũ và anh chị em họ ở làng. Thuở đó ở tuổi lên 10 vô tư chúng tôi nào có để ý đến thời sự và chiến tranh…

Rồi Saigon thất thủ. Cuộc nội chiến hơn hai mươi năm kết thúc.

Mọi người rời đi. Một số trở về quê cũ, số khác di tản khỏi Việt nam, số thì ở lại Saigon.
Cuộc sống thời hậu chiến vô vàn khó khăn. Đất nước thoát cảnh chiến tranh nhưng lại đối mặt với nghèo đói và bệnh tật. Người ta vẫn chết không vì bom bay đạn lạc mà vì bần cùng và cả vì những quả bom hay mìn còn sót lại đây đó trong lòng đất Việt nam. Rồi một ngày kia tôi được tin một người bạn thời thơ ấu chết vì dẫm phải mìn khi đang cùng với con trâu cày bừa trên mảnh ruộng nhà. Cả người và vật đều tan vào với đất….

Tôi đã không trở về làng từ dạo đó.

Nhiều năm trôi qua…

Rồi một ngày của năm 2001 tôi trở về Huế. Tôi đã đi thăm lại nhiều chốn cũ của tuổi thơ tôi. Tôi về thăm lại ngôi nhà hương hỏa bên nội, nơi tôi trải qua năm đầu của cuộc đời tôi. Tôi đi thăm Phủ Tuy Lý nơi mẹ tôi sống thời thơ ấu của bà cùng với các cậu. Tôi về Vỹ dạ, tôi qua Đập đá. Tôi đi viếng mộ ông bà nội ngoại của tôi. Tôi đến chùa Thiên Mụ nơi tôi được ba mẹ bế đến Quy Y tam bảo…Nhưng hơn tất cả mọi nơi, có một nơi trái tim tôi thổn thức đòi về. Tôi đã sợ không dám về thăm ngôi làng nhỏ bên bờ sông Hương.

Nhiều thứ đã thay đổi kể từ khi tôi rời Huế. Cảnh vật đã khác xưa. Không một nơi tôi về còn lại như cũ. Mọi thứ không như tôi vẫn hằng nhớ và hồn tôi nặng trĩu trên từng bước chân về lối cũ, về miền ký ức thuở nào… Trái tim tan nát của tôi mách bảo tôi đừng về nơi ấy về lại ngôi làng xưa yêu dấu để rồi thấy mình là kẻ lạ ở chốn xưa.

Tôi rời Huế…lòng vẫn tự hỏi lòng….nơi ấy thế nào?.... “và những người muôn năm cũ hồn ở đâu bây giờ” (thơ Vũ Đình Liên). Và có lẽ tôi cũng không muốn biết câu trả lời.

Rồi cùng thời gian qua…cuộc sống tôi cũng thay đổi với những bộn bề lo toan đời thường.
Thế nhưng đâu đó trong miền ký ức vẫn là con bé tôi ở ngôi làng cũ ấy của hơn 30 năm về trước. Tôi hứa với hai con gái một ngày nào đó tôi sẽ đưa con về làng, ngôi làng xưa đã lưu giữ một phần tuổi thơ tôi. Còn giờ đây chỉ còn trong giấc mơ, ngôi làng cũ sống động hơn bao giờ, vẫn còn đó những thằng bé cưỡi trâu, tiếng chó sủa dồn, tiếng gà me cục tác gọi đàn con về chuồng. Tôi lại nghe thấy mùi rơm rạ cháy và cả tiếng côn trùng rả rích trong những đêm hè…
Như có một gịot nuoc mắt nóng hổi vùa lăn xuống, và tôi nhận ra rằng vùng đất ấy vẫn luôn luôn sưởi ấm tim tôi chừng nào trái tim ây vẫn còn đập nhịp với đời….
Tôn Nữ Phương Thảo

Thursday, June 12, 2008

Nhà...

Cuối ngày của một sinh hoạt bất kể là công việc hay vui chơi, mọi người “đi về nhà”. Chữ “về nhà” nghe rất êm ái mời gọi. Chữ “về nhà” có cảm giác buông hết để nghỉ ngơi. Chữ “về nhà” là hình tượng hạnh phúc. Người Hoa Kỳ cũng vậy “home sweet home”, it expresses the very same meaning. Có lẽ các ngôn ngữ khác cũng diễn tả giống như vậy thôi khi “đi về nhà”.

“Nhà”, liên hệ vô cùng cần thiết trong đời sống nhiễu nhương đến độ mong manh hôm nay. Ngày ngày, gánh trên vai một gánh đời nặng nhẹ tùy lúc. Dù nặng dù nhẹ cũng phải gánh, đường đời thì không bằng phẳng, nhiều khi quanh co, thử tưởng tượng không có “nhà” để nghe lời gọi về êm ái, không có “nhà” để có cảm giác nghỉ ngơi, không có “nhà” để thấy hình tượng hạnh phúc, thì gánh đời nặng nề và đường đời cô độc biết chừng nào.

Có những lúc mưa nắng ở ngoài trời kia, thì “nhà” cũng có lúc nắng mưa. Nắng thì nóng mà mưa thì lạnh, nhũng trạng thái bất thường ấy đôi khi làm nặng hơi thở thường ngày, nhưng không có những lúc khó thở thì làm sao biết được nhịp thở đồng điệu ngày ngày là tuyệt diệu hạnh phúc.

“Nhà”, liên hệ vô cùng cần thiết cho đời sống đầy cám dỗ hôm nay. Con người vốn dĩ có khuynh hướng quy hàng tật xấu. Có những quy hàng vụn vặt làm thành những ngày nắng mưa bất thường và cũng có những quy hàng giông bão mất hết cửa nhà. Thì “nhà”, vượt trên cả những điều răn tôn giáo, vô hình chận đứng con đường sa tăng bằng hình tượng hạnh phúc mà con người cảm nhận được.

Tôi được thượng đế ban cho một đời sống may nhiều hơn rủi. Có loại may mắn được lần nào biết lần ấy thôi, có lọai được một lần hưởng cả một đời. Có cái may mắn phải cần thêm duyên số mà thành. Cái may mắn có rồi thì phải trau chuốt mà giữ. Cái may mắn đó tôi cũng đã được trời cho. May mắn có “nhà”. Có “nhà” từ độ xinh tươi như nụ hoa Xuân. Từ đó có “nhà” mỗi ngày trong đời cho đến hôm nay. Mỗi ngày trong đời nhìn lại là cả một quảng đường dài có nắng có gió có giông có bão nhưng rất nhiều yêu thương và lắm nồng nàn.

Mỗi ngày trong đời, tôi vẫn cảm ơn thượng đế về những may mắn được ban. Mỗi đêm trong ngày, tôi vẫn lắng nghe nhịp thở bình yên bên cạnh mà mong được đồng điệu thở cho hết nhịp thở an lạc hạnh phúc. Và khi hết, xin được tắt chung hơi thở bình an cùng "nhà".

Từ nay tôi đã có nàng
Biết ơn sông núi đáp đền tiếng ca
Mùa xuân trên những mái nhà
Có con chim hót tên là ái ân. TCS

Nguyễn Hoàng Hà – sáu/không tám